TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN XUÔI: TRUYỆN NGẮN TỪ GÓC NHÌN TÌNH HUỐNG TRUYỆN

Thứ hai - 28/01/2013 08:10
Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là một yêu cầu tất yếu của giáo dục trong thời kỳ hiện nay. Tuy nhiên, việc đổi mới PPDH ở mỗi bộ môn lại có những đặc thù khác nhau. Riêng đối với môn Ngữ Văn - môn học thuộc KHXH - NV, trước nay thường bị đánh giá là môn học thuộc lòng, phương pháp giảng dạy của giáo viên theo lối mòn là đọc- chép, giáo viên thiên về thuyết trình trong giảng dạy, học sinh ghi nhớ kiến thức một cách máy móc. Vì vậy học sinh bị động trong quá trình lĩnh hội kiến thức, học vẹt. Với cách học đó không thể phát huy được khả năng sáng tạo của học sinh, giờ học trở nên nặng nề áp đặt đối với cả thầy và trò. Từ đó, việc đổi mới phương pháp dạy học có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

CẤU TRÚC GIẢI PHÁP HỮU ÍCH:

 

“TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN XUÔI: TRUYỆN NGẮN TỪ GÓC NHÌN TÌNH HUỐNG TRUYỆN”

 

A. Mở đầu      ………............................................Trang 2-3

I. Lí do chọn đề tài  

II. Cơ sở lí luận

B. Nội dung    ……………………………………Trang 3 -20

I. Thực trạng và phân tích thực trạng           Trang 3       

1. Thuận lợi:                                                             

2. Khó khăn:                                                                        

II. Giải Pháp thực hiện……………………  Trang 4 - 12    

III. Tổ chức thực hiện – Đánh giá kết quả    Trang 12-18

      C. Kết luận…………………………………….....Trang 21

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GIẢI PHÁP HỮU ÍCH:

 

“TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN XUÔI: TRUYỆN NGẮN TỪ GÓC NHÌN TÌNH HUỐNG TRUYỆN”

 

A. MỞ ĐẦU:

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

             Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH)  là một yêu cầu tất yếu của giáo dục trong thời kỳ hiện nay. Tuy nhiên, việc đổi mới PPDH ở mỗi bộ môn lại có những đặc thù khác nhau. Riêng đối với môn Ngữ Văn - môn học thuộc KHXH - NV, trước nay thường bị đánh giá là môn học thuộc lòng, phương pháp giảng dạy của giáo viên theo lối mòn là đọc- chép, giáo viên thiên về thuyết trình trong giảng dạy, học sinh ghi nhớ kiến thức một cách máy móc. Vì vậy học sinh bị động trong quá trình lĩnh hội kiến thức, học vẹt. Với cách học đó không thể phát huy được khả năng sáng tạo của học sinh, giờ học trở nên nặng nề áp đặt đối với cả thầy và trò. Từ đó, việc đổi mới phương pháp dạy học có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Bộ GD-ĐT đã chủ trương tiến hành đổi mới phương pháp dạy - học cho phù hợp đưa phương pháp lấy học sinh làm trung tâmvào trong các cấp học, các môn học, thay SGK để phù hợp cho việc đổi mới phương pháp dạy học.Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy bộ môn này ở nhà trường còn gặp rất nhiều khó khăn đòi hỏi sự cố gắng nổ lực của cả thầy và trò. Với đặc thù của địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn (một trong 62 huyện nghèo của cả nước); đa số là học sinh  người dân tộc thiểu số nên việc tiếp thu bài còn chậm, khả năng tư duy còn nhiều hạn chế. Từ đó dẫn đến khả năng các em  hiểu bài, cảm thụ tác phẩm và làm bài là còn yếu, dẫn đến chán học và bỏ học giữa chừng, chưa hoàn thành nhiệm vụ học tấp hết bậc Trung học Phổ thông(THPT).

Để góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học môn Ngữ văn nói riêng, bản thân tôi mặc dù là giáo viên tuổi nghề còn trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy thực tiễn và nghiên cứu, tôi mạnh dạn chia sẽ cùng đồng nghiệp Giải pháp:“TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN XUÔI: TRUYỆN NGẮN TỪ GÓC NHÌN TÌNH HUỐNG TRUYỆN”. Khi đưa ra giải pháp này, tôi mong muốn góp phần giúp giáo viên tiến hành một giờ dạy học  có hiệu quả tốt hơn, học sinh tiếp thu, lĩnh hội kiến thức của bài học một cách hứng thú hơn; để một giờ dạy Văn thật sự cuốn hút, là tiết học mong chờ của học sinh. Trước vòng xoáy có sức hút ghê gớm, ma lực  của mặt trái nền kinh tế thị trường,  trong thời kì hội nhập quốc tế như hiện nay với những tín hiệu rạn nứt trong  suy nghĩ và hành động của giới trẻ, thì những giá trị của “thông điệp” trong các tác phẩm văn chương là liều thuốc hữu ích bồi dưỡng tâm hồn của người học thêm trong sáng để vươn đến các chuẩn mực: chân, thiện, mĩ. Đây là lí do tôi chọn đề tài này.

 

II. CƠ SỞ LÍ LUẬN.

Môn Ngữ văn là môn học giữ vị trí quan trọng trong chương trình phổ thông. Trong môn Ngữ văn, truyện ngắn chiếm ¾ số lượng tác phẩm văn xuôi. Điều đó chứng tỏ tác phẩm văn xuôi: Truyện ngắn hết sức quan trọng. Trong cấu trúc của đề thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông(TNTHPT) và Đại học(ĐH) luôn có sự hiện diện của tác phẩm văn xuôi.Giảng dạy tác phẩm văn xuôi: truyện ngắn giúp học sinh  không chỉ khám phá được cái hay, cái đẹp của sáng tác nghệ thuật ngôn từ, mà còn thu thập được vốn hiểu biết về văn học,  cảm thụ được tầm tư tưởng của người viết.Tuy nhiên, với đặc thù riêng của bộ môn Ngữ văn – những sáng tác có khoảng cách xa so với thực tại, chứa đựng những tư duy, những quan niệm thẩm mỹ, những tư tưởng của nhà văn và thời đại là những khó khăn lớn đối với người học. Hơn nữa, với dung lượng kiến thức lớn nhưng lại bị hạn chế trong thời gian 1 – 2 tiết học trong nhà trường phổ thông nên khiến giáo viên khi dạy nội dung này vẫn chưa đạt được tới đích những giá trị của tác phẩm văn xuôi: truyện ngắn. Từ thực tế này đòi hỏi giáo viên Ngữ văn cần lựa chọn phương pháp – phương tiện dạy học phù hợp với từng nộidung, đặc trưng của tiết học, nhằm tổ chức, định hướng cho học sinh thu thập thông tin, chinh phục kho tàng tri thức một cách hiệu quả.

Từ khi Bộ giáo dục thực hiện chương trình thay sách ở bậc THPT, đặc biệt là thực hiện việc đổi mới và phát triển sự nghiệp giáo dục, nâng cao chất lượng toàn diện các môn học thì việc đổi mới phương pháp là nhiệm vụ cấp thiết trong hoạt động dạy – học.

Nhận thức sâu sắc tính cấp thiết của vấn đề, trong quá trình giảng dạy tôi không ngừng tìm tòi, khám phá để từng bước ứng dụng có hiệu quả việc:“TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN XUÔI: TRUYỆN NGẮN TỪ GÓC NHÌN TÌNH HUỐNG TRUYỆN”trong giảng dạy. Tôi đã thu được một số kinh nghiệm về: nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn bằng sử dụng kiểu dạng: Tình huống và ứng dụng giảng dạy ở một số bài học tác phẩm văn xuôi: Truyện ngắn ở chương trình lớp 11 và vận dụng trong nửa học kì I lớp 12(năm học 2012-2013) của môn Ngữ Văn.

Tìm hiểu những giá trị tác phẩm văn xuôi: truyện ngắn đi từ tình huống truyện là dạng xem xét, đánh giá trong hệ thống các mối quan hệ biện chứng, mắt xích lẫn nhau. Tình huống truyện là dụng ý nghệ thuật, là ý đồ của nhà văn để gửi gắm tư tưởng, thông điệp trong tác phẩm. Tình huống truyện thể hiện phong cách độc đáo của tác giả.

 

Trong bài viết Truyện ngắn hôm nay (đăng trên báo Văn nghệ, số 48, ngày 30/11/1991), Nguyễn Đăng Mạnh viết: “Quan trọng nhất của truyện ngắn là tạo ra một tình huống nào đấy, từ tình huống ấy bật nổi một bản chất tính cách nhân vật hoặc bộc lộ một tâm trạng

 

  Học sinh trong quá trình lựa chọn, sắp xếp nhận diện mối quan hệ, chỉ ra điểm tương đồng hoặc khác biệt của các đơn vị kiến thức, từ đó khái quát nắm vững kiến thức trọng tâm, bám sát chuẩn kiến thức-kĩ năng bài học. 

Thực tế ứng dụng cho thấy đây là một phương pháp giảng dạy rất hiệu quả, phát huy tính tích cực của học sinh. Giáo viên dạy và nhận thấy rõ tính ưu việt của phương pháp này.

 

B. PHẦN NỘI DUNG:

I. Thực trạng dạy và học môn Ngữ văn

1. Thuận lợi:

a.Giáo viên:

Như chúng ta đã biết Bộ GD-ĐT đã chủ trương tiến hành đổi mới phương pháp dạy - học cho phù hợp đưa phương pháp lấy học sinh làm trung tâm. Vì vậy  mỗi giáo viên  đang từng bước cố gắng thay đổi phương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh thông qua các hoạt động dạy – học.

Giáo viên đã tích cực hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm, hỗ trợ kiến thức cho nhau và thông qua hoạt động này những học sinh yếu kém được hoạt động một cách tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viên và các học sinh khá.

Trong quá trình dạy học đã kết hợp các đồ dùng dạy học, khai thác triệt để các phương tiện dạy học như tranh ảnh, phim, ứng dụng công nghệ thông tin...

 

b. Học sinh:

         Có thể nói, dạy học tác phẩm văn xuôi: truyện ngắn đi từ tình huống truyện là đặt tác phẩm vào một tình huống cụ thể để làm nổi bật nội dung và nghệ thuật, điều đó kích thích được trí tò mò, khám phá, tìm hiểu giúp học sinh học được phương pháp học tập chủ động, tích cực. Thực tế ở trường phổ thông cho thấy, nhiều học sinh có xu hướng không thích học môn Ngữ văn hoặc ngại học môn Ngữ văn do đặc trưng môn học thường phải ghi chép nhiều, khó nhớ, chưa có phương pháp phù hợp. Một số em học tập chăm chỉ nhưng kết quả học tập chưa cao. Các em thường học bài nào biết bài đó, học phần sau không biết liên hệ với phần trước, không biết hệ thồng kiến thức, liên kết kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước vào bài học sau, vào các dạng đề thi. Do đó, việc dạy học tác phẩm văn xuôi: truyện ngắn đi từ tình huống truyện, sẽ giúp học sinh học nắm được phương pháp tiếp cận tác phẩm văn xuôi một cách dễ dàng, khoa học tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Từ đó từng bước nâng cao kết quả trong học tập bộ môn Ngữ văn tại Trường THPT Đạ Tông.

 

2. Khó khăn:

a. Về phía Giáo viên:

           Việc giảng dạy các tác phẩm văn xuôi: truyện ngắn chưa đặt tác phẩm trong một tình huống cụ thể(thời gian, không gian...) để xem xét các mối quan hệ đa chiều, biện chứng với các nhân vật, nội dung và nghệ thuật. Chưa đặt ra được tình huống có vấn đề, chưa xác định được nó là “chìa khóa” để khám phá tác phẩm và đồng thời thể hiện tư tưởng, phong cách của nhà văn.

   Một số Giáo viên vẫn chưa tích cực hóa hoạt động của học sinh, nhiều giáo viên còn tỏ ra lúng túng, thiếu kinh nghiệm nên việc ứng dụng chưa thực sự hiệu quả. Một số giáo viên  chưa thường xuyên sử dụng, chỉ áp dụng trong các giờ thao giảng. Dẫn dến các thao tác chưa được thuần thục hoặc thiếu kinh nghiệm nên dạy hiệu quả không cao, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh, chưa rèn luyện kĩ năng  tạo lập của học sinh, phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình giảng dạy.

 

b. Về phía Học sinh:

  Chưa xác định được chính mình là trung tâm của quá tình dạy-học. Với lối học thụ động, ít soạn bài và học bài theo hướng dẫn của thầy cô trước khi đến lớp.

Học sinh thường trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra thông qua việc nhìn sách giáo khoa hoặc sách tham khảo và nhắc lại chưa có suy nghĩ độc lập và tư duy, việc phân tích, tổng hợp giá trị nội dung,  tư tưởng bài học còn nhiều hạn chế.

 

II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ÁP DỤNG TRONG VIỆC DẠY HỌC THEO HƯỚNG:

“TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN XUÔI: TRUYỆN NGẮN TỪ GÓC NHÌN TÌNH HUỐNG TRUYỆN”.

  Nhận thức sâu sắc tính cấp thiết của vấn đề, trong quá trình giảng dạy tôi không ngừng tìm tòi, khám phá để từng bước ứng dụng có hiệu quả  trong giảng dạy. Tôi đã thu được một số kinh nghiệm về nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn đi từ tình huống truyện để khám phá nội dung, nghệ thuật của tác phẩm văn xuôi: Truyện ngắn.  

 Khi giảng dạy một tác phẩm truyện ngắn, sau phần Giới thiệu chung (giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của tác giả; giới thiệu về hoàn cảnh ra đời tác phẩm), trong phần Đọc – hiểu văn bản, tôi thường hướng dẫn học tìm hiểu về tình huống truyện. Xuất phát từ tình huống truyện, tôi khai thác tác phẩm về các khía cạnh: nhân vật, kết cấu, nghệ thuật trần thuật,… Từ đó, tôi hướng dẫn học sinh rút ra được chủ đề tác phẩm:

 

I. Lí thuyết:

1. Khái niệm:Tình huống truyện, xét đến cùng, là một sự kiện đặc biệt của đời sống được nhà văn sáng tạo trong tác phẩm theo lối lạ hoá.

+ Nhà văn đã làm sống dậy trong sự kiện ấy một tình thế bất thường của quan hệ đời sống (quan hệ giữa các nhân vật tham gia vào sự kiện, hoặc giữa nhân vật với ngoại giới).

+ Tại sự kiện ấy bản chất của nhân vật hiện  hình sắc nét.

+ Tại sự kiện ấy ý tưởng của tác giả cũng bộc lộ trọn vẹn.

 

2. Phân loại:Tình huống truyện được chia thành hai loại:

 a. Về tính chất: có thể thấy truyện ngắn có ba dạng chính, bởi chứa đựng ba dạng tình huống truyện căn bản :

Tình huống hành động. Là loại sự kiện đặc biệt mà trong đó nhân vật bị đẩy tới một tình thế (thường là éo le) chỉ có thể giải quyết bằng hành động. Tình huống này thường hướng tới một kiểu nhân vật : Nhân vật hành động. Tức là loại nhân vật chủ yếu được hiện lên bằng hệ thống hành vi, hành động của nó, các bình diện khác ít được quan tâm. Do đó, nó quyết định đến diện mạo của toàn truyện : truyện ngắn giàu kịch tính.  (Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao là một trường hợp tiêu biểu).

-  Tình huống tâm trạng. Đó là sự kiện đặc biệt của đời sống mà ở đó nhân vật rơi vào một tình thế làm nảy sinh một biến động nào đó trong thế giới tình cảm. Tình huống này thường dẫn tới một kiểu nhân vật là : Con người tình cảm. Nghĩa là kiểu nhân vật được hiện lên chủ yếu bằng thế giới nội cảm của nó, nhà văn tạo dựng nên hình tượng nhân vật chủ yếu bằng một hệ thống chất liệu là cảm giác, cảm xúc với các phức hợp khác nhau của chúng. Còn các khía cạnh khác (như ngoại hình, hành động, lí tính…) ít được quan tâm. Và vì thế, nó quyết định đến diện mạo của toàn truyện : truyện ngắn trữ tình. (Truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam nghiêng về dạng này)

-  Tình huống nhận thức. Đó là sự kiện đặc biệt của đời sống mà tại đó nhân vật được đẩy tới một tình thế bất thường : đối mặt với một bài học nhận thức, bật lên một vấn đề (về nhân sinh, về nghệ thuật) cần phải vỡ lẽ, giác ngộ. Kiểu nhân vật của dạng tình huống này đương nhiên là : nhân vật tư tưởng. Nghĩa là kiểu nhân vật được khai thác chủ yếu ở đời sống nhận thức lí tính của nó. Chất liệu cơ bản để dệt nên nhân vật là hệ thống những quan sát, phân tích, suy lí, đúc kết, chiêm nghiệm, toan tính v.v… Mà trường hợp đậm đặc nhất là mỗi nhân vật giống như một tư tưởng được nhân vật hoá vậy. Diện mạo của loại truyện ngắn này cũng đương nhiên là nghiêng về triết luận (Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, Đôi mắt của Nam Cao..)

b. Về số lượng:có thể thấy truyện ngắn có hai loại : 1) truyện một tình huống.  Cả truyện ngắn chỉ xoay quanh có một tình huống duy nhất bao trùm(Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, Đôi mắt của Nam Cao, Hai đứa trẻ của Thạch Lam). 2) truyện ngắn nhiều tình huống. Cả thiên truyện được dệt từ nhiều tình huống (Chí phèo của Nam Cao,  Vợ chồng A Phủ  của Tô Hoài)

 

3. Các bước xác định tình huống truyện :

a. Đặt câu hỏi : Sự kiện nào bao trùm và chi phối toàn bộ thiên truyện này ? Hay Sự kiện bao trùm nào đã giúp tác giả dựng lên toàn bộ truyện ngắn này ?...

b. Tổng hợp các tình tiết : Lướt qua những tình tiết chính và xác định : một trong các tình tiết ấy đóng vai trò bao trùm, chi phối quán xuyến toàn truyện, hay chúng chỉ là những thành tố nối kết với nhau để làm thành một sự kiện lớn hơn, sự kiện ấy mới trùm lên tất cả ? Đáng chú ý nhất ở đấy là cái tình thế bất thường nào đó mà chúng chứa đựng.

c. Tìm tên gọi để định danh:Đây là khâu khá then chốt, chưa tìm được tên thích hợp thì xem như tình huống vẫn còn nằm ngoài tầm tay của ta vậy.

4. Phân tích tình huống: Cần tiến hành phân tích các bình diện cơ bản sau đây :

a. Diện mạo của tình huống(bình diện không gian)

b. Diễn biến của tình huống(bình diện thời gian)

c. Mối liên kết của tình huống với các khâu khác của tác phẩm(chi phối đến tổ chức hình thức của văn bản nghệ thuật truyện ngắn)

4. Rút ra ý nghĩa của tình huống :

Tức là rút ra cái thông điệp thẩm mĩ mà tình huống chứa đựng

a. Về quan niệm :Toát lên quan niệm gì về nhân sinh, thẩm mĩ ?

b. Về cảm xúc :Chứa đựng cảm xúc chủ đạo gì ?

 

II. Thực hành:

1. Tác phẩm: Hai đứa trẻ của Thạch Lam:

a. Xác định tình huống truyện:

- Tình huống trong truyện ngắn: Hai đứa trẻ của Thạch Lam là khung cảnh hai đứa trẻ trên một phố huyện nghèo. Hai cái mầm cây nhú lên trên một mảnh đất cằn cỗi bạc màu. Hai mầm sống non tơ trên một nơi không có sinh khí. Sự trái ngược, trái khoáy kia chứa đựng một mâu thuẫn nhân sinh làm day dứt lòng người, cứ gặm nhấm những lo âu về số phận con người. Hình dung như thế ta mới hiểu vì sao bối cảnh lại là một phố huyện nghèo, và vì sao nhân vật trung tâm của câu chuyện lại là An và Liên. Sự đối lập nghiệt ngã đó ẩn chứa dụng ý nghệ thuật của Thạch Lam khi thể hiện chủ đề tư tưởng của truyện.

 

b. Phân tích tình huống truyện:

- Để gây ấn tượng thật xót xa và thấm thía về một phố huyện tàn tạ héo úa, Thạch Lam đã chọn một thời điểm, sự kiện, cảnh vật, đồ vật và nhân vật rất hoà điệu, ăn nhập với nhau đến kì lạ. Một ngày tàn kéo dài đến đêm tàn. Một phiên chợ tàn. Một hệ thống cảnh vật và đồ vật tàn. Trên đó hiện ra những kiếp người tàn. Hãy đi vào từng bình diện ấy. Đúng là, mỗi mảnh đất thường hiện lên cái diện mạo thật của nó vào một thời điểm nào đấy. Với phố huyện này là lúc chiều tàn. Cứ nắng tắt dần, tiếng trống thu không rời rạc vang lên trên chòi canh nhỏ, là phố huyện bắt đầu hiện ra bộ mặt thật của nó. Đó là một miền quê xơ xác, tiêu điều, quẩn quanh, mòn mỏi. Âm thanh thưa thớt dần, ánh sáng yếu ớt dần, hơi thở của một ngày cứ tan rã dần dần theo từng thời khắc. Đến đêm tàn thì cả miền quê như chìm vào màn đen không đáy, "xung quanh đầy bóng tối và sự tịch mịch". Phố huyện bị nuốt dần vào màn đêm hoang vu thăm thẳm như chìm nghỉm vào hư vô. Thạch Lam tả một phiên chợ quê vào dịp chính phiên, nhưng không để thấy vẻ sầm uất, sôi động ; trái lại, làm nổi lên tất cả lèo tèo, thưa thớt, ế ẩm. Đúng lúc chợ tàn, nên hình ảnh sự sống càng tan rã, thê lương. Ngày chính phiên mà thế, hỏi rằng những ngày khác còn thảm hại như thế nào ! Cảnh vật thì một dãy phố với những căn nhà xiêu vẹo tranh tối tranh sáng, một nhà ga xép cỏn con, tủi sầu, côi cút, một vài lều chợ ọp ẹp đứng gá trên bãi rác rưởi, một chòm làng trầm lặng sau rặng tre lêu nghêu trong bóng tà dương, một ngôi quán được tả cận cảnh thì phên vách rách rưới đến nỗi dán cả giấy nhật trình lên cũng không kín…Và đồ vật : có một cái chõng, thì ọp ẹp sắp gẫy ; có một manh chiếu, thì xơ xướp ; có một cây đàn, thì cũ kĩ còm cõi ; có một cái chậu sắt tráng men, thì rúm ró, long lở ; có những ngọn đèn dầu, thì đều tù mù leo lét... Trên cái nền phông cảnh ấy, hiện ra những kiếp người tàn. Cả những cư dân kiếm sống ban ngày, lẫn cư dân kiếm sống ban đêm đều là những kiếp người ngoi ngóp. Những người này vừa lùi vào bóng tối, thì những người kia từ bóng tối lần lượt đi ra. Có cả những kiếp người tàn hoàn toàn theo nghĩa đen của chữ : bác Xẩm, bà cụ Thi điên - những phế nhân, người thì còn đó mà đời đã tàn quá nửa. Phố huyện khác chi một sân khấu thu nhỏ cả cuộc đời. Con người chường mình ra trên đó có thể đổi vai cho nhau mà không ai đổi phận được cho ai. "Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ". Không phải họ đang sống mà đang cầm cự trong vô vọng… Tất cả cái thế giới kia được mô tả một cách tự nhiên kín đáo và sinh động, chúng cộng hưởng với nhau góp phần tạo ra cái bầu không khí ảm đạm tàn héo vây phủ lên toàn bộ câu chuyện. Và, về khuya, ở chốn phố huyện kia chỉ còn có bóng tối và sự tịch mịch hoàn toàn ngự trị.

 

c. Ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện:

- Việc hai đứa trẻ con ngồi đợi đoàn tàu, trong mắt người đời có lẽ chỉ là một việc bâng quơ không đâu, thậm chí vô nghĩa. Thế mà Thạch Lam lại đã thấy trong đó một ý nghĩa không đùa, thấy nó chứa đựng một khát khao không chỉ của hai đứa trẻ, không chỉ của phố huyện ấy, mà là của cả cái thế giới này : khao khát đổi đời. Thông điệp nhà văn muốn nói qua đó là : hãy cứu lấy những đứa trẻ, cứu lấy tương lai ! cần phải thay đổi cái thế giới tăm tôi này đi ! Hãy mang đến một cuộc sống khác xứng đáng với con người hơn, một cuộc sống mà con người có quyền sống trong hi vọng, chứ không phải đang tàn đi trong vô vọng thế kia. Đó là thông điệp của một tấm lòng được chuyển tải bằng một tài năng.

 

2. Tác phẩm: Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân:

a. Xác định tình huống truyện:

- Sau khi lướt qua các tình tiết chính ( Huấn Cao rỗ gông, Huấn Cao nhận cơm rượu, Huấn Cao xúc phạm Quản Ngục, Huấn Cao ân hận, Huấn Cao cho chữ…) ta thấy không phải một trong những tình tiết ấy đóng vai trò chi phối. Trái lại, chúng chỉ là những tình tiết họp lại để làm thành một sự kiện lớn hơn, và trong đó mới chứa cái "tình thế nảy ra truyện". Sự kiện lớn ấy là : cuộc gặp gỡ oái oăm giữa Huấn Cao và Quản ngục.

 

b. Phân tích tình huống truyện:

- Diện mạo của tình huống. Nó oái oăm ít nhất vì ba lí do sau :

+ Không gian và thời gian diễn ra cuộc gặp gỡ. Không gian là nhà tù. Đây không phải là nơi dành cho những cuộc gặp gỡ. Vì thế nhà tù chỉ là nơi gặp gỡ ngoài ý muốn, trái khoáy, bất đắc dĩ. Thời gian là những ngày cuối cùng trước khi ra pháp trường của Huấn Cao. Không gian và thời gian như thế đã góp phần tạo nên kịch tính cho tình huống.  

+ Sự éo le trong thân phận hai nhân vật. Trước hết, xét ở bình diện xã hội, họ là hai kẻ đối địch : Huấn Cao là "giặc" của triều đình - Quản ngục lại là quan của triều đình. Xét trên bình diện nghệ thuật họ là những người nghệ sĩ tài hoa, uyên bác. Huấn Cao là nghệ sĩ sáng tạo cái đẹp, còn viên Quản ngục là người nghệ sĩ biết thưởng thức cái đẹp, quý trọng và nâng niu cái đẹp: “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm, có được chữ ông Huấn Cao như là có một báu vật trên đời”

+ Cuộc đối mặt ngang trái. Nhìn phía này, đó là cuộc giáp mặt giữa hai loại tù nhân. Huấn Cao là tử tù, theo nghĩa đen. Còn Quản ngục là kẻ bị tù chung thân, không hoàn toàn theo nghĩa bóng. Cảnh cho chữ là tình tiết sau chót hoàn tất cuộc gặp gỡ oái oăm này. Đến đây mọi khía cạnh mới bộc lộ trọn vẹn. Nguyễn Tuân gọi đó là "cảnh tượng xưa nay chưa từng có”.

 

c. Ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện:

Tình huống ấy chứa đựng một quan niệm sâu sắc : Cái đẹp là bất diệt. Dù thực tại có hắc ám đến đâu cũng không tiêu diệt được cái đẹp. Nó mãi mãi là một lí tưởng nhân văn cao cả của cõi người này.

 

3. Tác phẩm: Chí Phèo của Nam Cao:

a. Xác định tình huống truyện:

- Tình huống truyện độc đáo trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao đó là “tiếng chửi” mở đầu cho thiên truyện hết sức sống động, độc đáo: sự vật vã của một linh hồn đau đớn, tuyệt vọng. Đó chính là một thủ pháp nghệ thuật tài tình của Nam Cao. Nhà văn để nhân vật xuất hiện trong tâm trạng điển hình nhất. Vừa gây sự tò mò cho người đọc, vừa làm nổi bật tư tưởng, chủ đề của tác phẩm: “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượi xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời….hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thắng Chí Phèo…”

 

b. Phân tích tình huống truyện:

- Tiếng chửi không phải bâng quơ, mà là một phản ứng, một khát vọng được giao tiếp với mọi người trong làng Vũ Đại của Chí. Đó cũng là tâm trạng ẩn chứa tấn bi kịch bị cự tuyệt quyến làm người của Chí.

- Từ “tiếng chửi” người đọc mới dần nhận ra nhân vật Chí Phèo: từ lai lịch, đến quá trình tha hóa, đến cuộc gặp với Thị Nở, đến Chí muốn làm người lương thiện, để rồi giết Bá Kiến và tự sát…

- Thông qua “tiếng chửi” và hình tượng nhân vật Chí Phèo, Nam Cao khẳng định người nông dân trước Cách Mạng Tháng Tám 1945 không chỉ đói khổ vì miếng cơm manh áo, mà điều đau đớn hơn là bi kịch về lĩnh vực tinh thần. Đó là một bi kịch dai dẵng không lối thoát. Mặt khác, Nam Cao còn khẳng định phẩm chất tốt đẹp của người nông dân dù bất cứ trong hoàn cảnh khắc nghiệt nào.

 

c. Ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện:

- Người nông dân bị xã hội tàn phá về tâm hồn, hủy diệt cả nhân tính, bị phủ nhận giá trị, tư cách làm người.

- Nổi thống khổ ghê gớm của Chí Phèo không phải ở chổ tất cả cuộc đời người nông dân cố cùng này chỉ là một số không: không nhà không cửa, không cha không mẹ, không họ hàng thân thích, không tấc đất cắm dùi, cả đời không hề biết đến một bàn tay chăm sóc của đàn bà nếu không gặp Thị Nở… ,mà chính là ở chỗ Chí đã bị xã hội rạch nát cả một bộ mặt người, cướp đi linh hồn người, để bị loại ra khỏi xã hội loài người, phải sống kiếp sống tối tăm của thú vật.

- Thông qua tác phẩm, Nam Cao muốn gửi gắm một thông điệp: Hãy cứu lấy linh hồn của những người nông dân bằng tình yêu thương đồng loại: Gía trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

 

4. Tác phẩm: Vợ nhặt của Kim Lân:

a. Xác định tình huống truyện:

Sau khi lướt qua các tình tiết chính của truyện này, ta dễ dàng thấy rằng hạt nhân của truyện ngắn Vợ nhặt là một cuộc hôn nhân oái ăm, kì lạ. Và đó chính là cái "tình thế nảy ra truyện", cái tình huống của câu chuyện: Tràng – anh nông dân nghèo thô kệch, dân ngụ cư bỗng “nhặt” được vợ trong nạn đói khủng khiếp năm 1945.

 

b. Phân tích tình huống truyện:

-Việc Tràng “nhặt vợ” tạo ra sự lạ lùng, ngạc nhiên đối với tất cả mọi người:

+Khi Tràng dẫn vợ về thì cả xóm ngụ cư ngạc nhiên. Trước hết là lũ trẻ. "Lũ ranh" ấy bỗng nhiên mất hẳn đi một bạn chơi, khi có đứa chợt nhận ra quan hệ của họ là "chồng vợ hài". Còn đám người lớn thì ngớ ra "không tin được dù đó là sự thật". Khi đã rõ, họ tò mò thì ít mà ái ngại nhiều hơn: "Giời đất này còn rước cái của nợ đời về".

+Tiếp đến là bà cụ Tứ cũng quá đỗi ngạc nhiên: hoàn toàn không tin nổi - không tin vào mắt mình (ngỡ mình trông gà hoá cuốc), không tin vào tai mình (quái, sao lại chào mình bằng "u").

+Ngay cả Tràng vẫn không hết ngạc nhiên vì mình được vợ: chẳng những cứ đứng "tây ngây" giữa nhà tối hôm trước mà đến tận hôm sau, qua một đêm có vợ rồi nhưng "hắn cứ lơ lửng như người đi ra từ trong một giấc mơ".

-Tình huống “nhặt vợ”  là tình huống oái ăm, kì lạ:

+ Tràng - một gã trai nghèo khổ, thô kệch, lại là dân ngụ cư, lâu nay ế vợ, bỗng dưng "nhặt" được vợ, mà lại là vợ theo không.

+ Tràng lấy vợ vào lúc không ai lại đi lấy vợ - giữa những ngày nạn đói đang lăm le cướp đi mạng sống của mỗi người.

+ Một đám cưới thiếu tất cả mà lại như đủ cả (thiếu tất cả những lễ nghi tối thiểu nhất của một đám cưới, nhưng nó lại có cái quan trọng nhất, cốt lõi nhất: sự  thương yêu gắn bó thực lòng).

-Tâm trạng của những nhân vật trước tình huống này chứa đầy những cảm xúc ngổn ngang, mâu thuẫn và các nhân vật  có sự thay đổi về tính cách:

+Bà cụ Tứ vui vì cuối cùng con mình cũng có vợ nhưng lại tủi vì sự trớ trêu của số phận: có phải thời “tao đoạn” như thế, người ta mới chịu lấy con mình? Bà mẹ nghèo nặng trĩu những lo âu cho tương lai con “liệu chúng nó có nuôi nhau nổi sống qua được cơn đói khát này không?”. Câu hỏi từ đáy lòng của bà mẹ chất chứa nỗi hoang mang, ám ảnh của kiếp nghèo không lối thoát. Trong lời nghẹn nghào tâm sự có cả sự xót xa, một chút ân hận vì đã không làm được đầy đủ bổn phận của người mẹ đối với con.

+Tâm trạng của Tràng cũng biến đổi liên tục. Lúc đầu Tràng tỏ ra lo lắng trước cảnh nghèo “… thóc gạo này mà còn đèo bòng”. Sau đó, Tràng chấp nhận đưa vợ về ra mắt với tâm trạng lâng lâng hạnh phúc, ngượng ngịu, bối rối. Sau một ngày có vợ, Tràng cảm thấy vui sướng, hạnh phúc và “nên người”. Tràng nhận ra được trách nhiệm của bản thân đối với gia đình, với mẹ, với vợ và những đứa con sau này. Tràng tin tưởng sự đổi đời ở tương lai.

+Người vợ nhặt: Trước khi làm vợ Tràng, chị liều lĩnh, chao chát. Khi về làm vợ, chị tỏ ra lễ phép, đảm dang, hiền hậu, biết thu vén gia đình và có hiểu biết về thời sự.

 

c. Ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện:

-Tố cáo được tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật, kẻ đã gây ra nạn đói khủng khiếp, không chỉ cướp đi sinh mệnh của mấy triệu người Việt Nam, mà còn hạ thấp giá trị con người.

-Phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của con người: ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

 

5. Tác phẩm: Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi:

a. Xác định tình huống truyện:

            Đây là câu chuyện về gia đình của anh Giải phóng quân tên Việt. Nhân vật này rơi vào tình huống đặc biệt: trong một trận đánh, Việt bị thương phài nằm lại giữa chiến trường. Anh nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại, tỉnh lại rồi ngất đi. Trong những lúc tỉnh lại ngất đi đó, bao nhiêu kí ức về gia đình, về đồng đội, về bản thân cứ mồn một hiện về lung linh sống động trong tâm trí Việt.

b. Phân tích tình huống truyện:

            -Nhờ tình huống truyện, tác phẩm có một lối tự sự riêng. Lối tự sự, kể chuyện không hoàn toàn theo trật tự thời gian mà chủ yếu theo dòng hồi tưởng miên man đứt nối của Việt lúc bị thương nằm lại giữa chiến trường mênh mông bóng tối -  bóng tối của màn đêm, bóng tối do đôi mắt bị thương không thể nhìn thấy gì bên ngoài. Chính nhờ cách trần thuật này mà mạch truyện đi về thoải mái giữa quá khứ và hiện tại; giữa cái đang ở trước mặt với cái đã thành kỉ niệm xa xưa.

            -Dòng ý thức của Việt chập chờn giữa những lần tỉnh, ngất ấy đã lần lượt tái hiện những gì đã qua, đang có trong đời anh. Dòng nội tâm anh đứt nối, nối đứt đã tái hiện bao nét sinh động cụ thể về chú Năm,  má , chị Chiến:

+Má:

* Có cuộc sống cơ cực, nhọc nhằn, khổ đau.

* Rất mực yêu thương chồng con và căm thù giặc sâu sắc: đi đòi đầu chồng; thương con hết mực nhưng rất nghiêm khắc (trong hồi ức chập chờn của Việt, má hiện lên đầu tiên: ghé lại, xoa đầu, đánh thức, lấy cơm cho Việt ăn…); luôn luôn nhắc nhở con về truyền thống gia đình và mối thù dân tộc; hun đúc, nuôi dưỡng ở con ý chí chiến đấu không mệt mỏi.

+ Chú Năm:

* Có giọng hò: tiếng hò vừa nhắc nhớ về truyền thống, thắp lên niềm tự hào về quê hương khó nghèo nhưng bất khuất, vừa như lời hiệu triệu, một tiếng trống quân thúc giục động viên thanh niên ra trận.

* Giữ cuốn sổ gia đình, ghi từng ngày thay cho Việt và Chiến -> giữ lửa yêu nước truyền cho các thế hệ.

* Yêu nước, gắn bó với quê hương tha thiết, căm thù giặc sâu sắc.

+ Chị Chiến:

* Yêu thương và luôn nhường nhịn Việt, trừ việc giành đi bộ đội với Việt.

* Mang những phẩm chất của má: đảm đang, tháo vát, sắp xếp chu đáo mọi việc trước khi lên đường nhập ngũ; bộc trực, quyết liệt, gan góc, quyết không đội trời chung với kẻ thù.

-Qua dòng hồi ức của nhân vật Việt, người đọc thấy hiện lên hình ảnh của một chàng trai mới lớn rất hồn nhiên, vô tư mà dũng cảm, gắn bó với những người thân  và giàu tinh thần trách nhiệm với truyền thống của gia đình, quê hương:

+ Tính cách trẻ con, hồn nhiên, vô tư: tranh đi bộ đội, tranh bắt ếch với chị; trong khi chị Chiến lo toan thu xếp việc gia đình thì Việt “lăn kềnh ra ván cười”, vừa nghe vừa “chụp một con đom đóm úp trong lòng tay” rồi ngủ quên lúc nào không biết; đi đánh giặc vẫn đeo ná thun; không sợ giặc nhưng lại sợ ma; mỗi lúc tỉnh lại ngoài chiến trường, Việt nhớ về gia đình, thèm được má cưng chiều…

+ Tình cảm gắn bó và ý thức trách nhiệm với truyền thống gia đình:

* Gắn bó, yêu thương những người thân: tình cảm gia đình được thể hiện qua dòng hồi ức của Việt về ba má, chú Năm, chị Chiến…

* Có ý thức trách nhiệm thiêng liêng của một đứa con với truyền thống gia đình: lòng căm thù giặc, khát vọng cầm súng chiến đấu trả thù cho ba má, bảo vệ gia đình, quê hương…

* Chiến đấu gan góc, quả cảm: diệt được xe bọc thép của giặc; bị thương nặng, lạc đồng đội, trong hồi ức đứt nối nhưng luôn thường trực nung nấu: tìm về với anh em, để tiếp tục đấu tranh; một mình ở lại giữa chiến trường nhưng vẫn sẵn sàng trong tư thế chiến đấu…

-Cách trần thuật này rất hữu hiệu trong việc thể hiện nội dung tư tưởng chủ đạo: gia đình là cội nguồn sâu thẳm nhất của con người, và truyền thống gia đình là thực sự thiêng liêng, vì nó đã hiện lên trong một thời khắc thiêng liêng.

-Cách kể chuyện này có hai tác dụng về nghệ thuật: câu chuyện vừa được kể, cũng là lúc tính cách nhân vật  được khắc họa; câu chuyện  trở nên mới mẻ, hấp dẫn vì được kể qua con mắt, tấm lòng và bằng ngôn ngữ, giọng điệu riêng của nhân vật.

 

 

 

c. Ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện:

            Nhà văn dựng tình huống tâm trạng nên trần thuật theo dòng ý thức của nhân vật. Qua đó thể hiện:

-Phẩm chất anh hùng của người nông dân Nam Bộ với ý tưởng nghệ thuật: người anh hùng là sản phẩm của một thời đại, đồng thời là sản phẩm của một truyền thống gia đình.

            -Ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

-Sự hòa quyện giữa tình cảm gia đình và tình cảm yêu nước, giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

 

6. Tác phẩm: Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu:

a. Xác định tình huống truyện:

            Truyện ngắn xoay quanh một tình huống chủ chốt: Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng tìm vào vùng quê miền biển mong chụp được bức ảnh nghệ thuật về làm lịch và tưởng đã thành công khi thu vào ống kính khung cảnh chiếc thuyền ngoài xa đẹp như một giấc mơ. Nhưng ngay sau đó, anh đã phải chứng kiến một nghịch cảnh trớ trêu: cảnh bạo hành trong một gia đình hàng chài vừa bước xuống từ con thuyền ấy. Những ngày sau, cảnh bạo hành đó vẫn tiếp diễn. Chánh án Đẩu đã mời người đàn bà làng chài đến tòa án để giải quyết chuyện gia đình của chị.

 

b. Phân tích tình huống truyện:

- Tình huống truyện được tạo nên bởi nghịch cảnh giữa vẻ đẹp chiếc thuyền ngoài xa với cái thật gần là sự ngang trái trong gia đình thuyền chài. Sau nhiều ngày “phục kích”, Phùng mới được “một cảnh “đắt” trời cho”. Nó giống như “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”. Toàn bộ khung cảnh “từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. Nhưng oái oăm thay, cảnh đẹp nhất, có hồn nhất lại là cảnh ẩn chứa những điều tệ hại nhất, xót xa nhất: bước ra từ thuyền là một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi; một người đàn ông to lớn dữ dằn; một cảnh tượng tàn nhẫn: gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo; đứa con thương mẹ, đánh lại cha.

            -Cuộc gặp gỡ của Đẩu, Phùng và người đàn bà hàng chài ở tòa án đã đẩy tình huống truyện lên tầm cao của giá trị nhận thức. Chánh án Đẩu đứng về phía người vợ để khuyên chị ly hôn nhưng thật bất ngờ, bằng những lý lẽ rất chân tình, người vợ từ chối, thậm chí van xin tòa án cho chị không bỏ chồng. Theo chị, gã chồng là chỗ dựa quan trọng của người phụ nữ làng chài, nhất là khi biển động phong ba. Hơn nữa, chị còn có những đứa con, chị phải sống vì con, sống cho con chứ không thể sống vì bản thân. Và trên thuyền cũng có những lúc vợ chồng con cái sống vui vẻ.

            Qua câu chuyện của người đàn bà ở tòa án, chúng ta hiểu thêm về nguyên nhân bi kịch và tính cách của các nhân vật:

+Gánh nặng mưu sinh đã làm cho người chồng thay đổi tính cách từ hiền lành sang thô bạo. Người chồng vừa là nạn nhân của cuộc sống đói nghèo vừa là thủ phạm gây ra nỗi đau cho vợ và con.

+Người vợ là một phụ nữ nhẫn nhịn, cam chịu, giàu lòng vị tha, bao dung, giàu lòng thương con. Chị thấu hiểu sâu sắc lẽ đời.

            +Đẩu hiểu được nguyên do người đàn bà không thể bỏ chồng là vì những đứa con. Anh vỡ lẽ ra nhiều điều trong cách nhìn nhận cuộc sống. Anh hiểu rằng, con người và cuộc sống phong phú, phức tạp chứ không dễ dàng lý giải và can thiệp như anh tưởng lúc ban đầu.

            +Phùng như thấy chiếc thuyền nghệ thuật ở ngoài xa, còn sự thật cuộc đời lại ở rất gần. Cái đẹp ngoại cảnh anh ngỡ là hoàn hảo, toàn bích có thể che khuất cái bề bộn, ngổn ngang của đời sống. Bề ngoài nhếch nhác, lam lũ, cơ cực lại có thể chứa đựng những vẻ đẹp tiềm ẩn trong con người. Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện giúp anh hiểu rõ hơn cái có lí trong cái tưởng như nghịch lí ở gia đình thuyền chài. Anh hiểu thêm tính cách của Đẩu và hiểu thêm chính mình.

 

c. Ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện:

            Tình huống truyện chứa đựng những suy ngẫm, phát hiện sâu sắc của nhà văn về cách để nhìn nhận, đánh giá con người, cuộc sống và về mối quan hệ giữa nghệ thuật với hiện thực, người nghệ sĩ với cuộc đời:

+Cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều mà chứa đựng nhiều nghịch lý. Cần nhìn nhận mọi sự việc, hiện tượng trong hoàn cảnh cụ thể của nó và trong mối quan hệ với nhiều yếu tố khác nữa.

+ Muốn giúp đỡ con người không chỉ dựa vào thiện chí hay kiến thức sách vở mà phải thấu hiểu cuộc sống của họ và có những biện pháp thiết thực.

+Con người ta luôn phải nhìn lại mình. Hoạt động tự ý thức khiến con người ngày càng hoàn thiện hơn.

+Nghệ thuật chân chính không bao giờ rời xa cuộc sống. Nghệ thuật chân chính là cuộc sống và phải luôn luôn vì cuộc sống

 

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN – ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ.

 

1. Tổ chức thực hiện.

Để làm sáng tỏ cho giải pháp trên, sau đây ngöôøi vieátsẽ  minh hoạ bằng tiết dạy cụ thể :

 

Tuần: 19                                                                                             Ngày soạn:   01-01-2013

Tiết PPCT: 55-56                                                                                Ngày dạy:    03-01-2013

ĐỌC VĂNVỢ NHẶT

                                                                                                   KIM LÂN

A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT.

  - Hiểu được tình cảnh sống thê thảm của người nông dân trong nạn đói năm 1945 và niềm tin vào tương lai, sự yêu thương đùm bọc giữa những con người nghèo khổ khi cận kề cái chết;

   - Thấy được một số nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm.

B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KỸ NĂNG, THÁI ĐỘ.

1. Kiến thức:

  - Tình cảnh thê thảm của người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 và niềm khao khát hạnh phúc gia đình, niềm tin vào cuộc sống, tình thương yêu đùm bọc giữa những con người nghèo khổ ngay trên bờ vực của cái chết.

   - Xây dựng tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc.

2. Kỹ năng:

   - Kĩ năng chuyên môn: Củng cố, nâng cao kĩ năng đọc – hiểu truyện ngắn hiện đại.

   - Kĩ năng sống: + Tự nhận thức về tấm lòng dũng cảm, trân trọng trước số phận con người của nhà văn, qua đó xác định các giá trị trong cuộc sống mà mỗi con người hướng tới.

                              + Tư duy sáng tạo: phân tích, bình luận về cá tính sắc nét, về nghệ thuật tả cảnh, tả tình, cách kể chuyện tự nhiên, về cách xây dựng nhân vật trong tác phẩm.

3. Thái độ:

 - Khát vọng sống, tình thương yêu đùm bọc của con người.

C. PHƯƠNG PHÁP.

      - Nêu vấn đề, phát vấn, đàm thoại kết hợp với diễn giảng.

      - Tổ chức HS thảo luận nhóm.

      - Khi giảng từng phần, GV chọn những đoạn đặc sắc để HS đọc diễn cảm.

D. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP.

 1. Ổn định lớp: Kiểm diện HS

 2. Bài cũ: Kiểm tra sự chuẩn bị của HS

 3. Bài mới: Đầu năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, nhân dân ta lâm vào tình thế một cổ hai tròng. ở miền Bắc nước ta, Nhật bắt nhổ lúa trồng đay, trong khi đó Pháp tăng thuế và ra sức vơ vét bốc lột. mùa xuân năm 1945, từ Lạng Sơn đến Quảng Trị nông dân ta lâm vào nạn đói chưa từng có trong lịch sử, 2,5 triệu người chết đói thê thảm. Nỗi đau này làm xúc động giới văn nghệ sĩ, Văn Cao – bài thơ “Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc”, Tố Hữu – trong “Xuân đến”, “Đói!Đói!”, Nguyên Hồng – trong “Địa ngục”, Tô Hoài trong “Mười năm”, Nguyễn Đình Thi – “Vỡ bờ” … đều đề cập đến nạn đói 1945. bằng tiếng nói nghệ thuật của mình, Kim Lân đóng góp một truyện ngắn thành công – “Vợ nhặt”.

Hoạt động của giáo viên và học sinh

                             Nội dung cần đạt

    

 - Em hãy trình bày những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của tác giả?

 

 

 

 

   - Truyện ngắn được rút ra từ tập truyện nào ? Qúa trình hình thành truyện ngắn này như thế nào ? 

   

 

 

 

     + Chia bố cục theo SGK .

     + HS nêu những nội dung chính của từng đoạn .

     + GV gọi HS đọc tác phẩm .

 

+ Xác định tình huống của truyện?

+ Phân tích tình huống truyện?

+ Ý nghĩa của tình huống truyện?

 

   - Tiêu đề “Vợ nhặt” gợi cho em suy nghĩ gì? Qua hiện tượng đó em hiểu thân phận người dân nghèo như thế nào, đặc biệt là nạn đói năm 1945?

 

 

 

 

  -  Hoàn cảnh Tràng khi gặp “ Vợ nhặt” ra sao? Hoàn cảnh ấy gợi cho em cảm xúc gì?

 

 

   - Sư kiện Tràng có vợ đã tác động đến mọi người như thế nào ?

  -  Vì sao việc Tràng có vợ lại khiến cho mọi người ngạc nhiên ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Tình huống truyện đặc biệt có ý nghĩa như thế nào?

 - Hoàn cảnh đói kém đó có phải của riêng Tràng không hay là hoàn cảnh chung của mọi người ở xóm ngụ cư này ?  

- Em hãy tìm những chi tiết miêu ta con người, không gian bức tranh năm đói ?

  - Từ những chi tiết trên, cái đói đã tác động đến con người như thế nào ?  

 

 

 

 

Củng cố:Tình huống truyện “vợ nhặt”  có ý nghĩa gì?

Tiết 2 : 

  -  Qua bức tranh trên tác giả muốn gửi gắm tư tưởng gì ?

  -  Nhân vật có hoàn cảnh chông chênh nhất trong tác phẩm này là ai ?

   - Thị lấy Tràng liệu có thể chạy chốn khỏi cái đói được hay không ?

 

 

   - Em có phát hiện ra sự thay đổi trong tính cách và tâm lí người vợ nhặt không? Sự thay đổi ấy là gì?

   - Tại sao thị lại có tâm trạng “ngượng ngùng” như thế?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

- Do đâu mà Kim Lân đã phát hiện ra sự thay đổi tính cách người vợ nhặt?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Thảo luận :5’, tất cả các nhóm:  

   Sự có mặt của người vợ mới đã làm thay đổi cuộc sống và tâm trạng của Tràng như thế nào ?

     + GV cho các tổ đóng góp ý kiến, nhận xét qua lại và GV chốt lại ý chính .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   - Những đổi thay trong cảm xúc, tình cảm của bà khi có con dâu mới ?

 

     + GV cho HS phát hiện ra diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ. Sau đó GV chốt lại.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Từ bà cụ Tứ, em hãy nhận xét về vẻ đẹp  tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam ?

 

 

- Sự cưu mang, yêu thương, quan tâm của Tràng, bà cụ Tứ, vợ nhặt đã đem lại cho họ điều gì ?

 

- Em có suy nghĩ gì khi kết thúc tác phẩm là hình ảnh lá cờ đỏ và đoàn người đói kéo nhau đi trên đê Sộp ?

     + Củng cố.

  Trình bày 1 phút: trình bày cảm nhận, ấn tượng sâu sắc của cá nhân về giá trị nội dung  và nghệ thuật của tác phẩm?

 

 

 

 

 

    + HS thảo luận về Gía trị hiện thực, giá trị nhân đạo sâu sắc trong tác phẩm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+ GV gọi HS đọc ghi nhớ SGK

 

 

 

+ GV hướng dẫn HS phần tự học

+ Bài tập 1: HS làm ở nhà

+ GV hướng dận HS làm bài tập 2:

 

 

I.Tìm hiểu chung:

  1.Tác giả:

     - Tên thật: Nguyễn Văn Tài(1920 - 2007), quê Bắc Ninh .

     - Thành công về đề tài nông thôn và nông dân; có một số tác phẩm hay về đề tài này (Đôi chim thành, Chó săn Nên vợ nên chồng, Con chó xấu xí ).

® Cây bút viết truyện ngắn tài năng .

  2.Tác phẩm :

     a. Hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ:

       -Tác phẩm nguyên là truyện “Xóm ngụ cư”viết ngay sau cách mạng tháng Tám.

       -Mất bản thảo, sau này được tác giả viết lại.

       - In trong tập “Con chó xấu xí” (1962).

     b. Bố cục 5 đoạn .

II.Đọc - hiểu văn bản :

   1.Đọc:

   2.Tìm hiểu văn bản:

 a.“ Vợ nhặt” – một tình huống éo le, độc đáo, vừa bi thảm vừa thấm đẫm tình người :

        - Tình huống khách quan :

          + Nhặt : nhặt nhạnh, nhặt vu vơ .

          + Vợ nhặt: không cưới hỏi đàng hoàng, rẻ rúng.

=>Nhan đề hé mở một cảnh ngộ và số phận của con người.

        - Tình huống nhân vật Tràng : 

          + Nghèo .

          + Xấu trai .

          + Dân ngụ cư .

          + Đói àlấy được vợ àvợ theo .

=> Đau xót: Không phải hoàn cảnh đói kém thì ai thèm lấy Tràng .

                       Vợ nhặt àkhông được cưới hỏi đàng hoàng .  

=> Sự kiện lạ làm mọi người ngạc nhiên và lo lắng:

         . Ngươi dân trong xóm ngụ cư:

         “Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên …”

         “Ôi chao! Giời đất này còn rước … không?

         . Ba cụ Tứ “Đến giữa sân bà lão đứng sửng lại, bà lão càng ngạc nhiên hơn”

         “Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?”

         . Bản thân Tràng:

         “Nhìn thị ngồi ngay … ngờ ngợ như không phải thế . ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”

         “Nói thế Tràng cũng tưởng là nói đùa … Mới đầu anh chàng cũng chợn , nghĩ…”

=> Trạng thái chông chênh:Đùa-Thật

=> Tình huống éo le trên mở đầu cho sự phát triển của truyện và tác động đến diễn biến tâm trạng, hành động của nhân vật và thể hiện chủ đề của truyện..

        - Một bức tranh ảm đạm ngày đói: cái đói làm thay đổi cuộc sống vốn bình lặng của xóm ngụ cư . 

 

           + Con người :

              Trẻ em : ngồi ủ rũ, không buồn nhúc nhích.

              Người lớn : người chết như ngả rạ, nằm ngổn ngang khắp lều chợ, xanh xám như những bóng ma, người chết ngổn ngang khắp lều chợ.

              Người vợ nhặt: rách rưới, tiều tụy

           + Không gian :

              Tiếng quạ “thê thiết” .

              Không khí : mùi ẩm thối, mùi gây của xác người,…

=> Cái đói đã lộ hết sức mạnh huỷ diệt cuộc sống tới mức khủng khiếp – tố cáo sâu sắc XH.

     b. Tấmlòng của mẹ con Tràng :

* Người “vợ nhặt” :

       - Không có tên, không tuổi, không quê .

       - Gặp lần đầu: “chao chát chỏng lỏn” (cong cớn, sưng sỉa, đon đả, lon ton)

       - Lần hai gặp mặt: biến đổi nhanh và rõ : thị rách quá, gợi ý để được ăn, khi dồng ý : ăn một chặp “4 bát bánh đúc”, thị lấy Tràng sau một lời nửa đùa nửa thật .

=> Tội nghiệp: thị lấy Tràng để chạy trốn cái đói, họ lấy nhau trong tâm trạng lo âu .

=>Niềm xót xa thông cảmàgiá trị nhân đạo sâu sắc. 

       - Theo Tràng về nhà:

         + Trước con mắt tò mò của xóm ngụ cư “thị càng ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia”.

         + Khi nhìn thấy cái nhà “vắng teo đứng rúm ró…”: Cái ngực “gầy lép” của chị “nhô hẳn lên, nén một tiếng thở dài”. “nhếch mép cười nhạt nhẽo”

         + Khi gặp bà cụ Tứ: e thẹn, khép nép, chào u lúng túng.

àKim Lân thấu hiểu hoàn cảnh người vợ nhặt: do hoàn cảnh xô đẩy có lúc thành ra kẻ cong cớn, trơ trẽn, trân tráo nhưng bản chất thị không phải là người như vậy.

         + Bữa cơm đầu tiên: “cháo cám”

àĐối diện với hoàn cảnh để tồn tại.

         + “Vợ nhặt” đã tìm thấy niềm hạnh phúc gia đình:

                  . Dậy sớm, quét tước dọn dẹp, thu vén cuộc sống gia đình “Tràng nom thị hôm nay … ngoài tỉnh” àhình ảnh “vợ hiền dâu thảo”.

=> Ngòi bút nhân hậu của Kim Lân không nỡ khoét sâu vào cảnh ngộ nghèo khó của người nông dân mà tập trung miêu tả thật tinh tế, sinh động niềm hạnh phúc gia đình của họ.

      * Tràng

  - Tràng là người lao động nghèo:

         + Mang tên một thứ đồ vật của thợ mộc – Tràng

         + Ngoại hình : xấu, xoàng xĩnh  ( hai con mắt nhỏ tí gà gà, hai bênh quai hàm bạch ra, đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước, lưng to rộng như lưng gấu)

         + Cách ăn nói : cộc cằn, thô kệch

         + Lại là dân ngụ cư, bị mọi người coi khinh, làm nghề đánh xe bò

       - Là người cởi mở và tốt bụng:

         + Đùa vui cùng các cô gái

         + Giữa lúc đói, anh sẵn lòng đãi người đàn bà xa lạ “Đấy, muốn ăn gì thì ăn”.

       - Luôn khao khát hạnh phúc và có ý thức xây dựng hạnh phúc:

         + Trước cái liếc mắt, cười tít của thị, Tràng thích lắm và cảm nhận được niềm sung sướng, hạnh phúc;

         + Câu “ Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” àẩn chứa niềm khao khát tổ ấm gia đình.

         + Lúc đầu khi có ý định đưa người đàn bà lạ về nhà, Tràng cũng có chút phân vân, do dự “ Mời đầu anh chàng cũng chơn nghĩ … đèo bòng”

         + Nhưng sau một thoáng do dự, hắn tặc lưỡi một cái “Chậc, kệ” rồi đưa người đàn bà lạ về nhà.

àQuyết định và hành động của Tràng nói lên niềm khao khát hạnh phúc gia đình của người nông dân nghèo khổ này ànổi bật chủ đề tác phẩm “Khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống …”

       - Diễn biến tâm trạng của Tràng trước tình huống  nhặt được vợ:

         + Trên đường dẫn vợ về nhà, Tràng như đã trở thành một con người khác: mặt phớn phở, nụ cười tủm tỉm, đôi mắt sáng lên .

         + Trước con mắt tò mò của người dân ngụ cư “…lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình”

         + Giới thiệu vợ mới với mẹ : phấp phỏng, bực mình khi mẹ khóc .

àNiềm khao khát hạnh phúc gia đình và tình thương giữa những con người nghèo khổ đã vượt lên tất cả, bất chấp cả cái đói và cái chết.

       - Buổi sáng đầu tiên khi có vợ:

         + Tràng cảm thấy “trong người êm ái … đi ra”

         + Chợt nhận ra “ Xung quanh mình vừa có cái gì thay đổi mới mẻ, khác lạ”

         + Tràng thấy mình trưởng thành, niềm vui sướng, hạnh phúc gắn liền với ý thức về bổn phận, trách nhiệm “Bỗng nhiên hắn thấy  …” àhành động “xăm xăm” tu sửa nhà cửa, …

         + Anh cũng nghĩ tới sự đổi thay cho dù vẫn chưa ý thức được đầy đủ (hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng, người đói chạy trên đê Sộp) 

àBước ngoặt thay đổi số phận lẫn tính cách của Tràng: khổ đau àhạnh phúc, chán đời àyêu đời, ngây dai àý thức.

=> Tràng là biểu tượng của niềm khao khát hạnh phúc gia đình, niềm tin vào cuộc sống, vào tương lai của những người nghèo khổ ngay trên bờ vực của cái chết.

        * Bà cụ Tứ : tâm trạngphức tạp, đầy mâu thuẫn.

          - Ngạc nhiên, sững sờ (độc thoại nội tâm, tâm trạng bà được khơi sâu bằng hàng loạt những câu hỏi), nhìn kĩ người đàn bà lần nữa nhưng không nhận ra người nào, bước chân “lập cập”, …àBà ngạc nhiên vì con mình nghèo, xấu xí, dân ngụ cư, lại đang thời buổi đói khát, nuôi thân chẳng xong, Tràng còn giám lấy vợ, rước thêm miệng ăn.

          - Hiểu ra cơ sự con mình “nhặt” được vợ, bà “cúi đầu nín lặng. Bà liên tưởng đến bao co sự “oái oăm”, “ai oán”, “xót thương” cho đứa con mìnhàNỗi lòng éo le: vừa mừng vừa tủi :

            + Mừng : con bà yên bề gia thất

            + Tủi vì:  “người ta có gặp bước đói khổ này mới lấy đến con mình”

                             Không làm tròn bổn phận dựng vợ gả chồng cho con

           + “Bà lão khẽ thở dài ngẩng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà”

         “Ừ, thôi thì các con phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng” à“Tràng đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi”. Lời nói ấy cũng trả danh dự nàng dâu cho “vợ nhặt”.

          - Từ xót xa cho con trai àthương xót cho người đàn bà, tủi phận mình “nước mắt cứ chảy xuống rịng rịng”.

          - Nỗi lo lắng về hạnh phúc, những mong dâu con hoà thuận: “chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua đươc cơn đói khát này không?”

          - Niềm tin và niềm vui trong cuộc sống và tương lai .

          Bà cụ Tứ thấy “nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên” cùng với nàng dâu, bà xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa.

         “Bà cụ nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau” .

         “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”

=> Bà cụ Tứ : + Nét đạo lí truyền thống, nhân hậu , bao dung và giàu lòng vị tha.

                         + Hiện thân của người mẹ nghèo khổ mà từng trải, rất mực yêu thương con – dâu, cảnh đời tội nghiệp .

         + Khát vọng về cuộc sống hạnh phúc gia đình .

         + Một con người lạc quan, có niềm tin vào tương lai, hạnh phúc tươi sáng.

=> Dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người.

     c. Hạnh phúc đơn sơ nhưng ấm lòng đã đến với họ :

        - Cảnh gia đình hạnh phúc :

          + Cưu mang, đùm bọc, quan tâm .

          + Tình vợ chồng, tình mẹ con àsức mạnh vượt qua trạng thái u uất, bế tắc .

        - Kết thúc là hình ảnh lá cờ đỏ: niềm tin ở sự sống và tương lai àphẩm chất đặc biệt của nhân dân lao động àđem lại cho họ niềm hạnh phúc trọn vẹn.

   3. Tổng kết:

     a. Nghệ thuật:

     - Xây dựng được tình huống truyện độc đáo.

     - Cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn; dựng cảnh sinh động nhiều chi tiết đặc sắc.

     - Nhân vật được khắc họa sinh động, đối thoại hấp dẫn, ấn tượng, thể hiện tâm lí tinh tế.

    - Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nhưng chắt lọc và giàu sức gợi.

     b. Ý nghĩa văn bản: Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945 và khẳng định: ngay trên bờ vực của cái chết, con người vẫn hướng về sự sống, tin tưởng ở tương lai, khao khát tổ ấm gia đình và yêu thương, đùm bọc lẫn nhau.

vGhi nhớ: SGK/15.

III. Hướngdẫn tự học:

- Học bài cũ cần nắm

+ Hướng dẫn làm bài luyện tập: Đoạn kết của truyện ngắn Vợ nhặt có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm: hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc Nhật và hình ảnh lá cờ đỏ của Việt Minh phấp phới trong đầu óc Tràng đối lập với hình ảnh thê thảm về nạn đói 1945 ở phần đầu truyện àKhi bị đẩy vào tình trạng đói khổ cùng đường, người nông dân lao động sẽ hướng tới cách mạng. Đây là xu hướng vận động tích cực, chủ yếu của VHVN từ 1945 đến 1975.

+ Tóm tắt truyện và phân tích ý nghĩa nhan đề Vợ nhặt.

 + Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ.

  + Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.                   

  - Chuẩn bị bài mới: Vợ  chồng A Phủ(Trích)- Tô Hoài, cần lưu ý:

+ Đọc tác phẩm, tìm những chi tiết độc đáo.

+ Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm

+ Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm.

E. RÚT KINH NGHIỆM:

....................................................................................................................................................................

....................................................................................................................................................................

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Kết quả đạt được:

Giải pháp này tôi đã tiến hành thực hiện ở lớp các lớp giảng dạy và đạt kết quả  tương đối khả quan như sau:

a. Trước khi áp dụng giải pháp:

KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM-KHỐI 12 NĂM HỌC 2012-2013

LỚP/SS

GIỎI

 

KHÁ

 

TB

 

YẾU

 

KÉM

 

 

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

12A4– 33

0

0%

2

6%

13

39.3%

18

54.5%

3

9%

12A5 -34

0

0%

1

2.9%

8

23.5%

19

55.9%

6

17.6%

12A6 - 33

0

0%

1

3%

11

33.3%

16

48.5%

5

15.2%

 

b. Sau khi áp dụng giải pháp:

 

 

Lớp

A. ĐIỂM THI HỌC KỲ I

Điểm >=5

Điểm từ 8 - 10

Điểm dưới 5

Điểm từ 0 - 3

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

12A4

17

51.50%

0

0%

16

48.50%

6

18.20%

12A5

13

39.40%

0

0%

20

60.60%

4

12.10%

12A6

15

45.50%

0

0%

18

54.50%

3

9%

 

Lớp

Tổng số học sinh

B. ĐIỂM TRUNG BÌNH MÔN HỌC KỲ I

Ghi chú

Giỏi

Khá

T. Bình

Yếu

Kém

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

12A4

33

0

0%

3

9%

26

78.80%

4

12.10%

0

0%

 

12A5

33

0

0%

5

15.20%

23

69.70%

5

15.20%

0

0%

 

12A6

33

0

0%

6

18.20%

23

69.70%

4

12.10%

0

0%

 

ĐỀ RA:

Tìm và phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn  Kim Lân?

*. Gợi ý dàn bài:
1. Mở bài:

+ Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
- Kim Lân là nhà văn một lòng một dạ đi về với "đất", với "người", với "thuần hậu nguyên thủy" của cuộc sống nông thôn.
- Nạn đói năm 1945 đã đi vào nhiều trang viết của các nhà văn, nhà thơ trong đã có Vợ nhặt của Kim Lân.
+ Nhận xét khái quát: 
- Vợ nhặt xây dựng tình huống truyện độc đáo.
- Qua tình huống truyện, tác phẩm thể hiện giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc.
2.Thân bài:
a. Bối cảnh xây dựng tình huống truyện.
+ Bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà kết quả là hơn hai triệu người chết.

+ Cái chết hiện hình trong tác phẩm tạo nên một không khí ảm đạm, thê lương. Những người sống luôn bị cái chết đe dọa.
b. Trong bối cảnh ấy, Tràng, nhân vật chính của tác phẩm "nhặt" được vợ. Đó là một tình huống độc đáo
+ Ở Tràng hội tụ nhiều yếu tố khiến nguy cơ "ế" vợ rất cao:
- Ngoại hình xấu, thô.
- Tính tình có phần không bình thường.
- Ăn nói cộc cằn, thô lỗ.
- Nhà nghèo, đi làm thuê nuôi mình và mẹ già.
- Nạn đói đe dọa, cái chết đeo bám.
+ Tràng lấy vợ là lấy cho mình thêm một tai họa (theo lô gíc tự nhiên).
+ Việc Tràng lấy vợ là một tình huống bất ngờ
- Cả xóm ngụ cư ngạc nhiên.
- Bà cụ Tứ cũng hết sức ngạc nhiên
- Bản thân Tràng có vợ rồi vẫn còn " ngờ ngợ".
+ Tình huống truyện bất ngờ nhưng rất hợp lí
- Nếu không phải năm đói khủng khiếp thì "người ta" không thèm lấy một người như Tràng.
- Tràng lấy vợ theo kiểu "nhặt" được.
c. Giá trị hiện thực: tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói
+ Cái đói dồn đuổi con người.
+ Cái đói bóp méo cả nhân cách.
+ Cái đói khiến cho hạnh phúc thật mỏng manh, tội nghiệp.
+ Vợ nhặt có sức tố cáo mạnh mẽ tội ác của bọn thực dân, phát xít.
d. Giá trị nhân đạo:
+ Tình người cao đẹp thể hiện qua cách đối xử với nhau của các nhân vật.
- Tràng rất trân trọng người "vợ nhặt" của mình.
- Thiên chức, bổn phận làm vợ, làm dâu được đánh thức nơi người "vợ nhặt"
- Tình yêu thương con của bà cụ Tứ.
+ Con người huôn hướng đến sự sống và luôn hi vọng, tin tưởng ở tương lai:
- Tràng lấy vợ là để duy trì sự sống.
- Bà cụ Tứ, một người già lại luôn miệng nói về ngày mai với những dự định thiết thực tạo niềm tin cho dâu con vào một cuộc sống tốt đẹp.
- Đoạn kết tác phẩm với hình ảnh lá cờ đỏ và đoàn người phá kho thóc Nhật.
3. Kết bài:
+ Khẳng định tài năng nhà văn qua việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn.
+ Khẳng định giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.

*.  Kết quả bài viết:

LỚP/SS

GIỎI

 

KHÁ

 

TB

 

YẾU

 

KÉM

 

 

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

12A4– 33

0

0%

7

21.2%

14

42.4%

12

36.4%

0

0%

12A5 -33

0

0%

6

2.9%

16

48.5%

11

33.3%

0

0%

12A6 - 33

0

0%

5

3%

14

42.4%

14

33.3%

0

0%

 * Một số trích dẫn bài làm của học sinh:

- “Đặt nhân vật vào tình huống éo le như vậy, Kim Lân đã làm nỗi bật được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo đặc sắc của tác phẩm. Đó là nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu(1945) với hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Trong hoàn cảnh ấy, giá trị con người thật rẻ rúng. Người ta có thể “nhặt” được vợ như “nhặt” một cái rơm, cái rác ở vệ đường. Đói đến mức con người không có tên để gọi (“Thị” chỉ là tên gọi chung cho giới tính nữ). Nhưng người dân lao động dù trong hoàn cảnh nào họ luôn tin tưởng vào ngày mai tươi sáng…”(Nguyễn Ngọc Trường An -12A5)

- “Đó là tình huống anh cu Tràng nghèo khổ, xấu trai, ế vợ đang đứng ngấp nghé bên bờ vực của cái chết vì đói khát lại “nhặt” được vợ trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đây là một tình huống là người đọc không khỏi không xúc động cười ra nước mắt. Và dường như nếu chúng ta đã từng một lần đọc qua truyện ngắn Vợ Nhặt hẳn chúng ta càng yêu quý và trân trọng giá trị cuộc sống mà đang có nhiều hơn….” (Cơ Liêng K Ngọc -12A4)

C.KẾT LUẬN.

-Giảng dạy tác phẩm truyện ngắn từ góc độ tình huống truyện có nhiều ưu điểm:

+Giúp học sinh cảm thụ tác phẩm một cách sâu sắc theo đặc trưng thể loại.

+Học sinh nắm được những nét riêng của từng truyện, đồng thời thấy được tài năng và cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn.

-Giảng dạy tác phẩm truyện ngắn từ góc độ tình huống truyện cần lưu ý:

+Nghệ thuật tạo dựng tình huống là tạo hoàn cảnh đặc trưng, đặt nhân vật vào một hoàn cảnh đặc biệt nào đấy để nhân vật bộc lộ hết tính cách, tâm trạng của mình.

+Khi phân tích tình huống cần theo các bước:

* Xác định tình huống.

* Phân tích diễn biến tình huống.

* Rút ra ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện.

+Hạt nhân của thể loại truyện ngắn là tình huống truyện nhưng cũng không phải là yếu tố duy nhất để thể hiện hết chủ đề, tư tưởng và ý dồ nghệ thuật của nhà văn. Do đó, khi phân tích tình huống truyện cần phải phân tích nhân vật, giọng điệu, kết cấu… để có sự đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc hơn.

+Khai thác và giảng dạy truyện ngắn từ góc độ tình huống không phải là một hướng đi mới mà chỉ là một phương pháp hiệu quả để khám phá tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Chính vì vậy, vấn đề này cần được ứng dụng rộng rãi hơn vào việc nghiên cứu, giảng dạy truyện ngắn nói chung và giảng dạy truyện ngắn ở Trường trung học phổ thông Đạ Tông  nói riêng.

  Trên đây là những trăn trở suy nghĩ của người viết trong thực tiễn dạy-học, mặc dù chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy nhưng tôi mạnh dạn đưa ra để chia sẻ, trao đổi. Rất mong nhận được nhiều sự góp ý chân thành từ quý đồng nghiệp để giải pháp trên đựơc dần hoàn thiên hơn. Xin chân thành cảm ơn!

 

                                                                                 Đạ Tông, ngày 06 tháng 01 năm 2013                                                                                       

                                                                                               Giáo viên thực hiện

 

                                               

 

                                                                                                    Đặng Bá Lĩnh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BẢNG PHỤ LỤC ĐÍNH KÈM (TÀI LIỆU THAM KHẢO)

 

1. Nguyễn Minh Châu (1994), Trang giấy trước đèn, NXB KHXH, Hà Nội.

2. Hà Minh Đức (chủ biên) (2006), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

3. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

4. Nguyễn Thị Dư Khánh (2009), Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

5. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên) (2008), Ngữ văn 12(tập 1 và tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

6. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên) (2008), Ngữ văn 12 – Sách giáo viên (tập 1 và tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

7. Phương Lựu (Chủ biên) (1997), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

8. Chu Văn Sơn,Chuyên đề Truyện ngắn  

9. Bùi Việt Thắng (2000), Truyện ngắn -  những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.

10. SGK, SGV, chuẩn kiến thức kĩ năng Ngữ Văn 11, 12

11. Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn. Sở GD-ĐT Lâm Đồng.

12. Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn. Sở GD-ĐT Lâm Đồng.

13. Tạp chí “Văn học và tuổi trẻ”

14. WWW. Lamdong.edu.vn

15. WWW. Lamdong day hoc.vn

 

 

                                                                                                                                   

      

Tác giả bài viết: Đặng Bá Lĩnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Khai giảng 2012-2013
13 photos | 10257 view

+ Xem tất cả

Danh ngôn cuộc sống

Bogiaoducdaotaosogiaoduclamdonggiaoviennet1

TRA CỨU TỪ ĐIỂN


Tra theo từ điển:


Ý kiến thăm dò

Bạn thấy website nhà trường như thế nào?

Giao diện đẹp và phù hợp với giáo dục

Cấu trúc về module và blog phù hợp

Nội dung phong phú và có cập nhật thường xuyên

Tất cả các ý kiến trên

Thống kê truy cập website

Đang truy cậpĐang truy cập : 5

Máy chủ tìm kiếm : 4

Khách viếng thăm : 1


Hôm nayHôm nay : 829

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 21187

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3399450

Thành viên